Lãi suất thẻ tín dụng tăng tới 40%: Điều gì đang thật sự diễn ra?
Thời gian gần đây, nhiều ngân hàng đồng loạt nâng lãi suất thẻ tín dụng. Chỉ tính riêng trong tháng 11, đã có tới 4 ngân hàng tăng lãi suất thẻ tín dụng, trong đó mức tăng cao nhất là ở ngân hàng OCB với mức tăng lãi suất từ 33% lên 37% (áp dụng cho toàn bộ thẻ, trừ Mastercard World 2in1 và Priority). Lãi suất thẻ tín dụng của những ngân hàng như Vietcombank, BIDV, VietinBank cũng đồng loạt tăng lên cao nhất là 22%.
Trước đó, trong tháng 10, Techcombank cũng nâng biểu phí lãi suất cho các dòng thẻ tín dụng, trong đó, Techcombank Visa chuẩn (Classic) có lãi suất cao nhất, lên tới 38,8%/năm.
Liên quan đến vấn đề này, trong trao đổi với VietnamFinance, ông Lê Hoài Ân, CFA, chuyên gia ngân hàng nhận định, động thái nâng lãi suất thẻ tín dụng của các ngân hàng xuất phát từ bài toán tối ưu biên lãi ròng (NIM).
“Dư nợ thẻ tín dụng chỉ chiếm khoảng 5% tổng dư nợ của ngân hàng, nhưng nếu lãi suất thẻ tăng thêm 2%, NIM của ngân hàng vẫn có thể cải thiện khoảng 0,1 %. Con số này không tạo ra bước ngoặt song vẫn là một phần bù đắp trong bối cảnh biên lãi thuần bị thu hẹp”, ông nói.
Trên thực tế, trong thời gian qua, NIM của các ngân hàng tiếp tục thu hẹp do áp lực huy động tăng mà lãi suất cho vay chưa được điều chỉnh tương ứng. Theo báo cáo của FiinGroup, tính đến hết quý II/2025, NIM toàn ngành giảm trở lại về khoảng 3%, mức thấp nhất kể từ cuối năm 2018. Trong đó, nhóm ngân hàng Nhà nước (Vietcombank, BIDV và VietinBank) vẫn neo NIM ở vùng đáy 2,0% - 2,6% do phải ưu tiên duy trì mặt bằng lãi suất cho vay thấp dù chi phí huy động tăng nhanh.

Đồng thời, tín dụng thẻ là phân khúc ít nhạy cảm với lãi suất hơn so với các khoản vay sản xuất - kinh doanh hay vay mua nhà. Quy mô dư nợ không lớn, tệp khách hàng sử dụng thẻ thường quan tâm nhiều hơn tới hạn mức, ưu đãi và sự tiện lợi thay vì mức lãi suất tuyệt đối. Do đó, việc điều chỉnh lãi suất thẻ thường không gây phản ứng mạnh mẽ từ thị trường, cũng không tạo áp lực lớn lên tăng trưởng tín dụng như trường hợp ngân hàng đồng loạt tăng lãi suất cho vay ở các phân khúc cốt lõi.
Ở góc độ quản trị vốn, đây chỉ là cách các tổ chức tài chính tối ưu dòng tiền của mình. Ngân hàng, công ty chứng khoán hay doanh nghiệp có dòng tiền lớn đều chia hoạt động thành mảng lớn và mảng nhỏ để dễ điều chỉnh lãi suất, giá vốn hay phí cho phù hợp. Những mảng nhỏ như thẻ tín dụng hay cho vay margin tuy không chiếm tỷ trọng lớn nhưng lại là “điểm chỉnh” quan trọng giúp hệ thống vận hành hiệu quả hơn.
Trong khi đó, ở góc nhìn khác, một chuyên gia tài chính khác cho rằng, trong bối cảnh room tín dụng được cấp không còn nhiều, thậm chí có những ngân hàng đã “cạn” room, buộc các ngân hàng phải tính toán kỹ mỗi đồng vốn cho vay ra.
“Khi dư địa tăng trưởng hạn chế, việc tối ưu hóa danh mục tín dụng, trong đó có việc điều chỉnh lãi suất các mảng có biên lợi nhuận cao như thẻ tín dụng, là cách để ngân hàng cải thiện hiệu quả sử dụng vốn mà không nhất thiết phải mở rộng mạnh quy mô cho vay”, ông nói.
Hiện nay, các ngân hàng thường áp dụng thời gian miễn lãi 45 - 55 ngày, tùy loại thẻ. Sau thời gian này, mọi khoản dư nợ chưa thanh toán sẽ bắt đầu bị tính lãi. Do đó, những thay đổi về lãi suất này sẽ chỉ tác động đến nhóm khách hàng không thanh toán dư nợ đúng hạn.
Ở phía người dùng, các chuyên gia cho rằng cách hiệu quả nhất để không rơi vào vòng xoáy lãi suất cao của thẻ tín dụng là sử dụng thẻ một cách có kỷ luật và tránh những sai lầm phổ biến.

Sai lầm phổ biến nhất chính là tiêu nhiều hơn khả năng chi trả. Cơ chế “quẹt trước - trả sau” dễ tạo ảo giác về nguồn tiền dồi dào, khiến không ít chủ thẻ chi tiêu thoải mái rồi đến cuối kỳ mới giật mình khi phải thanh toán toàn bộ khoản đã dùng. Khi số tiền nợ vượt quá thu nhập, áp lực trả nợ sẽ dồn lên, kéo theo nguy cơ trễ hạn hoặc không thể thanh toán đủ.
Bên cạnh đó, một hành vi khác tưởng như vô hại nhưng lại khiến chi phí tài chính đội lên đáng kể là chỉ trả mức tối thiểu mỗi kỳ sao kê. Nhiều người tin rằng miễn nộp đủ số tối thiểu thì tình trạng tín dụng vẫn an toàn. Song, thực tế, phần dư nợ còn lại vẫn tiếp tục bị tính lãi với mức rất cao, thường lên tới 25 - 30% mỗi năm khiến khoản nợ tăng nhanh hơn họ nghĩ.
Không ít khách hàng còn mắc thêm một bẫy khác, đó là mở quá nhiều thẻ tín dụng để “dễ xoay vòng” khi cần tiền. Tuy nhiên, càng nhiều thẻ thì việc theo dõi hạn thanh toán, kiểm soát chi tiêu và quản lý dòng tiền càng trở nên rối rắm. Chỉ cần quên một kỳ trả nợ hoặc chi vượt hạn mức ở một thẻ, người dùng có thể rơi vào vòng luẩn quẩn nợ nần và đối mặt nguy cơ phát sinh nợ xấu.
Xem thêm tại vietnamfinance.vn





