Lãi suất rầm rộ đi lên, tạo mặt bằng mới ngay từ đầu năm 2026

27 ngân hàng tăng lãi suất trong tháng cuối năm 2025

Những ngày cuối năm 2025, thị trường chứng kiến làn sóng điều chỉnh lãi suất huy động mạnh và rộng khắp, đặc biệt ở các kỳ hạn ngắn và trung hạn.

Tháng 12 ghi nhận đợt tăng lãi suất huy động mạnh nhất trong năm 2025 khi không có nhà băng nào giảm lãi suất và có tới 27 ngân hàng đồng loạt điều chỉnh lãi suất huy động, gồm: Techcombank, MB, NCB, BVBank, Saigonbank, ACB, Bac A Bank, OCB, KienlongBank, Sacombank, SHB, PGBank, VIB, Vikki Bank, VCBNeo, BIDV, VPBank, PVcombank, ABBank, LPBank, BaoViet Bank, Agribank, Vietcombank, VietinBank, SeABank, TPBank và Viet A Bank.

Nhiều ngân hàng như NCB, Techcombank, PGBank, VietinBank, BVBank, VIB, OCB, MB, ACB, Saigonbank và Sacombank đã 2 lần điều chỉnh tăng lãi suất huy động. Còn VPBank, OCB và PGBank đã tăng lãi suất lần thứ 3 trong tháng 12/2025.

Ngay cả nhóm ngân hàng thương mại nhà nước (gồm Agribank, BIDV, VietinBank và Vietcombank) vốn hiếm khi điều chỉnh lãi suất huy động cũng không thể đứng ngoài cuộc đua tăng lãi suất này.

Theo thống kê, ở kỳ hạn 3 tháng, ACB, BIDV và SeABank dẫn đầu về mức tăng lãi suất tiền gửi trong tháng 12/2025, lần lượt là 1,2%/năm, 1,1%/năm và 1%/năm.

Ở kỳ hạn 6 tháng, PGBank dẫn đầu về mức tăng lãi suất tiền gửi trong tháng 12/2025 khi tăng 2,1%/năm, NCB tăng 1,45%/năm, Agribank tăng 1,3%/năm. Ba ngân hàng SeABank, BIDV và Techcombank cùng tăng lãi suất tiết kiệm 1,2%/năm ở kỳ hạn 6 tháng.

Ở kỳ hạn 12 tháng, PGBank dẫn đầu về mức tăng lãi suất huy động tiền gửi trong tháng 12/2025 khi tăng thêm 2%/năm lên 7,2%/năm. Đây cũng là ngân hàng dẫn đầu thị trường về lãi suất huy động các kỳ hạn từ 1-36 tháng. OCB và VIB tăng trên 1%/năm. Còn các nhà băng ACB, SeABank, BIDV, Vietcombank và BVBank tăng từ 0,6-0,8%/năm.

Tại khối ngân hàng nước ngoài, Ngân hàng Hong Leong Việt Nam vừa nâng lãi suất tiền gửi trực tuyến kỳ hạn 6 tháng lên 7%/năm, cao hơn nhiều kỳ hạn dài hơn.

Woori Bank Việt Nam, UOB Việt Nam, CIMB Việt Nam và Public Bank Việt Nam cũng đồng loạt điều chỉnh tăng lãi suất, đưa mức cao nhất phổ biến lên vùng 5,7-6,5%/năm, tùy kỳ hạn và điều kiện tiền gửi.

Về lãi suất tiết kiệm cao nhất, ở kỳ hạn 3 tháng, tính đến 31/12/2025, có 12 ngân hàng niêm yết mức lãi suất trần 4,75%/năm cho tiền gửi kỳ hạn 3 tháng, gồm: OCB, PGBank, VIB, BVBank, PVCombank, Sacombank, LPBank, VPBank, VCBNeo, MBV, Nam A Bank và TPBank.

Ở kỳ hạn 6 tháng, lãi suất tiền gửi cao nhất lên tới 7,1%/năm, niêm yết tại PGBank. Vikki Bank và Bac A Bank cùng đứng thứ hai khi niêm yết lãi suất tới 6,5%/năm.

Tại kỳ hạn 12 tháng, lãi suất tiết kiệm được nhiều nhà băng niêm yết từ 6%/năm trở lên. Trong đó, lãi suất niêm yết cao nhất là 7,2%/năm thuộc về PGBank.

Không chỉ nâng lãi suất niêm yết, nhiều nhà băng còn áp dụng cơ chế cộng thêm lãi suất, đưa mức lãi thực nhận lên vùng 7-8%/năm, thậm chí cao hơn.

Chẳng hạn, NCB cộng thêm tới 2%/năm đến hết tháng 1/2026 cho tất cả khách hàng cá nhân gửi tiết kiệm trực tuyến, đưa lãi suất huy động cao nhất tại ngân hàng này lên đến 8,3%/năm.

Cake by VPBank cũng đẩy lãi suất lên trên 8% thông qua chính sách cộng thêm lãi suất. Sau khi cộng thêm, lãi suất mà khách hàng được hưởng lên đến 7,3-8,1%/năm tùy theo lượng tiền gửi.

Lãi suất đặc biệt cao nhất hiện dao động từ 6,5-9%/năm. Nhưng để được hưởng mức lãi suất này, khách hàng phải đáp ứng các điều kiện đặc biệt về quy mô tiền gửi.

PVcomBank áp dụng lãi suất đặc biệt 9%/năm cho kỳ hạn 12-13 tháng khi gửi tiền tại quầy, với điều kiện duy trì số dư tối thiểu 2.000 tỷ đồng.

Còn Vikki Bank đưa mức lãi suất 8,4%/năm đối với tiền gửi từ kỳ hạn 13 tháng trở lên, với số tiền gửi tối thiểu 999 tỷ đồng.

HDBank áp dụng lãi suất 8,1%/năm cho kỳ hạn 13 tháng và 7,7%/năm cho kỳ hạn 12 tháng, với điều kiện số dư tối thiểu 500 tỷ đồng.

Lãi suất huy động sẽ tạo mặt bằng mới từ đầu 2026

Diễn biến lãi suất gần đây không chỉ phản ánh áp lực thanh khoản mang tính mùa vụ mà còn mở ra những tín hiệu đáng chú ý cho mặt bằng lãi suất năm 2026.

Về xu hướng lãi suất tiền gửi năm 2026, giới phân tích dự báo sẽ nhích tăng nhẹ dưới tác động của nhu cầu vốn lớn, chênh lệch kỳ hạn huy động - cho vay.

Trong báo cáo Triển vọng Việt Nam 2026, Chứng khoán MB (MBS) cho biết lãi suất sẽ tạo lập mặt bằng mới trong năm 2026.

Nhóm phân tích của MBS dự báo lãi suất huy động 12 tháng có thể sẽ tiếp tục tăng thêm 0,5 điểm % trong năm 2026 do một số nguyên nhân như nới rộng chênh lệch cho vay và tiền gửi tại các ngân hàng thương mại; chênh lệch cấu trúc kỳ hạn giữa huy động và cho vay; chất lượng tài sản chưa cải thiện. Động thái này được đánh giá là bước đi cần thiết và tích cực để khơi thông dòng vốn, hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng.

Ông Trần Ngọc Báu - CEO Công ty Dữ liệu Kinh tế Tài chính WiGroup - nhận định xu hướng tăng lãi suất huy động vẫn sẽ tiếp tục, ít nhất trong ba tháng tới với mức tăng khoảng 0,5-1%, do ba nguyên nhân. Thứ nhất, nhu cầu thanh khoản sẽ cao cho đến hết Tết âm lịch - đây là yếu tố mùa vụ. Thứ hai, các kênh bổ trợ vốn khác không còn nhiều dư địa, nên kênh huy động vẫn là tối ưu. Các ngân hàng muốn cạnh tranh huy động thì phải tiếp tục tăng lãi suất. Thứ ba, cấu trúc huy động của ngân hàng Việt Nam có gần 80% là kỳ hạn dưới 6 tháng.

Trong khi đó, Chứng khoán Vietcap bày tỏ kỳ vọng áp lực tăng lãi suất huy động hiện tại sẽ nằm trong tầm kiểm soát do Ngân hàng Nhà nước (NHNN) sẽ duy trì lập trường nới lỏng trong chính sách tiền tệ nhằm hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng GDP 10% của Chính phủ trong năm 2026.

Theo đánh giá của Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam, với sự linh hoạt trong điều hành các công cụ chính sách tiền tệ của NHNN, áp lực tăng lãi suất huy động trong giai đoạn hiện nay vẫn nằm trong tầm kiểm soát.

Dù vậy, xu hướng lãi suất huy động năm 2026 nhiều khả năng sẽ duy trì ở mức cao hơn năm 2025, nhưng mức độ phân hóa giữa các nhóm ngân hàng ngày càng rõ nét.

Thực tế, các ngân hàng thương mại cổ phần quy mô vừa và nhỏ luôn chào lãi suất cao hơn mặt bằng chung, nhất là ở kỳ hạn 6-12 tháng, nhằm đáp ứng nhu cầu vốn trung - dài hạn và cải thiện thanh khoản. Trong khi đó, nhóm ngân hàng quốc doanh duy trì mức lãi suất thấp hơn nhưng ổn định, gắn với lợi thế về quy mô, thương hiệu và mức độ an toàn hệ thống.

Xem thêm tại vietnamfinance.vn